Mã di truyền có tính đặc hiệu tức là gì?

Bạn đang xem: Mã di truyền có tính đặc hiệu tức là gì? tại thptnguyenquannho.edu.vn

“Mã di truyền cụ thể nghĩa là gì?” Để trả lời câu hỏi trên, mời bạn đọc cùng Trường THPT Nguyễn Quán Nho tóm tắt lý thuyết Bài 1 Sinh học 12 trước khi chúng ta ôn tập các dạng bài tập:

Tìm hiểu về mã di truyền

Mã di truyền là gì?

Mã di truyền là sự sắp xếp các nuclêôtit trong gen (trên mạch khuôn) quy định trình tự các axit amin trong prôtêin – Trong ADN chỉ có 4 loại nuclêôtit (A, T, G, X) nhưng trong prôtêin thì có khoảng 20 loại axit amin. Do đó, mã di truyền phải là một bộ ba (còn được gọi là codon).– Mã di truyền bao gồm: bộ ba gốc trên DNA, bộ ba sao chép trên mRNA và bộ ba trên tRNA. Ví dụ: mã gốc là 3′-TAX…-5′ thì mã sao tương ứng là: 5′-AUG…-3′ và mã đối là: UAX tương ứng với axit amin quy định là Met.

Ví dụ: 1 đoạn mã di truyền (Thay C bằng X) Ví dụ: 1 đoạn mã di truyền (Thay C bằng X)

Câu hỏi: Tính đặc thù của mã di truyền được thể hiện như thế nào?

A. Mọi sinh vật đều dùng chung một bộ mã di truyền

B. Mỗi axit amin thường được mã hóa bởi nhiều bộ ba.

C. Mỗi bộ ba chỉ mã hóa một loại axit amin

D. Mã di truyền dọc theo cụm, không trùng nhau.

Câu trả lời:

Đặc điểm của mã di truyền là gì?

  • Mã di truyền được đọc tuần tự từ bộ khởi động (AUG với codon) trong các bộ ba nucleotide mà không có sự chồng chéo.
  • Mã di truyền đặc hiệu: Một bộ ba mã hóa chỉ mã hóa cho một loại axit amin.
  • Mã di truyền là phổ quát: Tất cả các hệ thống sinh học đều sử dụng mã di truyền bộ ba và một bảng mã chung, tính năng này được gọi là tính phổ biến của mã di truyền. Tính chung của mã di truyền được biểu hiện đồng thời với tính chất chung của mã bộ ba:

+ Các mã bộ ba của mARN luôn được đọc theo chiều 5′->3′.

+ Kể từ mã bắt đầu, các mã bộ ba luôn được đọc liên tục không ngắt quãng cho đến khi gặp mã kết thúc. Tuy nhiên, trong một số hệ thống, mã di truyền có một số biến thể so với mã tiêu chuẩn, chẳng hạn như bộ gen của ty thể nhân thực:

+UGA không được sử dụng làm mã kết thúc, nó mã hóa cho Trp. Do đó, bộ ba trên phân tử tARNTrp nhận biết đồng thời hai mã UCC và UCA trên mARN.

Mã AUG và AUA cũng được dùng để mã hóa Met trên chuỗi polipeptit.

+ Ở động vật có vú, mã AGA và AGG không dùng để mã hóa Arg mà đóng vai trò là bộ kết thúc -> bộ gen của ti thể có 4 bộ kết thúc là UAA, UAG, AGA, AGG.

+ Ở ruồi giấm, hai mã AGA và AGG không mã hóa cho Arg mà mã hóa cho Ser. Ngoài ra, điều này cũng có thể được nhìn thấy ở một số vi khuẩn và bộ gen nhân ở một số sinh vật nhân chuẩn. Ví dụ, vi khuẩn Mycoplasma capricolum sử dụng UGA (thường là bộ kết thúc) để mã hóa Trp. Tương tự như vậy, một số động vật nguyên sinh sử dụng các đầu cuối chung UAA và UGA để mã hóa Gln, hoặc, giống như nấm candida, sử dụng mã CUG (mã hóa chung cho Leu) để mã hóa Ser.

  • Mã di truyền có tính thoái hóa: 1 axit amin được mã hóa bởi nhiều codon khác nhau, trừ AUG và UGG. Sự xuống cấp của mã di truyền có tác động tích cực đến sự sống của tế bào. Trong số 64 mã bộ ba có 3 mã bộ ba kết thúc và 61 mã bộ ba mã hóa cho 20 axit amin chung. Điều này có nghĩa là một số axit amin được mã hóa bởi các bộ ba khác nhau. Hiện tượng này được gọi là thoái hóa mã ba. Các mã bộ ba dùng để mã hóa axit amin được gọi là mã bộ ba đồng nghĩa, nghĩa là thường 2 nucleotit đầu tiên giống nhau, nucleotid thứ 3 hoặc C hoặc U, hoặc A hoặc G. Tuy nhiên, nguyên tắc là như vậy. Điều này không phải lúc nào cũng đúng, điển hình với axit amin Leu được mã hóa bởi bộ ba UUA, UUG, CUU, CUC, CUA và CUG hoặc Arg được mã hóa bởi CGU, CGC, CGA, CGG, AGA, AGG. Sự thoái biến của mã bộ ba giải thích sự khác biệt về tỷ lệ AT/GC ở hầu hết các loài, nhưng thành phần axit amin trong protein của chúng là tương tự nhau. Nhờ đó, các lỗi dịch thuật được hạn chế tối đa. GC có lực liên kết lớn hơn liên kết A=U, vì vậy nếu 2 nucleotide đầu tiên là G/C, khả năng bắt cặp sai trong dịch mã ở nucleotide thứ ba là rất có thể xảy ra và việc sử dụng bất kỳ 1 trong 4 nucleotide trong vị trí thứ ba cùng mã hóa cho một loại axit amin làm giảm thiểu hậu quả đột biến).

Câu hỏi: Đặc điểm nào sau đây của mã di truyền là sai?

A. Mã di truyền được đọc từ một điểm xác định trong bộ ba nuclêôtit

B. Mã di truyền đặc trưng cho mỗi loài

C. Mã di truyền có tính đặc hiệu, tức là một bộ ba chỉ mã hóa cho một loại axit amin

D. Mã di truyền có tính thoái hóa

Đáp án: BỎ

Tính đặc thù của mã di truyền là gì?

Mã di truyền có tính đặc hiệu tức là: Một bộ ba chỉ mã hóa cho một axit amin, vì mã di truyền là trình tự các nuclêôtit trong gen (trên mạch khuôn) quy định trình tự sắp xếp của các axit. amino trong prôtêin, mã di truyền gồm bộ 3 mã cơ sở trên ADN và bộ 3 sao mã trên mARN.

Lý do:

  • Mã di truyền là trình tự các nuclêôtit trong gen (trên mạch khuôn) quy định trình tự các axit amin trong prôtêin.
  • Mã di truyền bao gồm một bộ ba mã cơ sở trong DNA và một bộ ba bản sao trong mRNA.
  • Mã di truyền là bộ ba vì:

Nếu mỗi nuclêôtit mã hoá một axit amin thì 4 nuclêôtit chỉ mã hoá được 4 axit amin.

+ Nếu cứ 2 nuclêôtit mã hóa 1 axit amin thì 4 nuclêôtit đó chỉ mã hóa được 42 = 16 bộ ba thì mã hóa được 16 axit amin.

+ Nếu cứ 3 nuclêôtit mã hóa 1 axit amin thì 4 nuclêôtit đó chỉ mã hóa được 43 = 64 mã bộ ba cho 20 axit amin.

Bằng thực nghiệm, các nhà khoa học đã xác định được chính xác cứ 3 nuclêôtit liên tiếp mã hóa cho một loại axit amin và có 64 bộ ba.

– Mã mở đầu và mã kết thúc: AUG là mã mở đầu, thể hiện vị trí axit amin thứ nhất. Chúng nằm ở đầu 5′ mRNA, cũng là mã của methionine. Do đó, axit amin đầu tiên được tạo thành từ chuỗi polypeptide là methionine. Tất nhiên, ở một số loài vi khuẩn, GUG là mã khởi đầu. Ở sinh vật nhân thực, CUG đôi khi cũng đóng vai trò là mã khởi tạo. Mã UAA, UAG và UGA là các mã kết thúc được tạo thành từ chuỗi polypeptide, không đại diện cho bất kỳ axit amin nào, chúng tồn tại độc lập hoặc cùng nhau ở đầu 3′. Do đó, quá trình dịch mã sẽ diễn ra từ 5′ đến 3′ mRNA.

– Mã không dấu: Giữa 2 mã di truyền không có bất kỳ nucleotit nào để phân tách nên bắt đầu từ mã AUG, mỗi codon (mã bộ ba) xác định một axit amin, cấu tạo nên khung mã, cho đến mã kết thúc. Việc thêm hoặc bớt một codon trong khung mã sẽ gây ra đột biến trong mã di truyền, gây ra sai sót trong trình tự axit amin.

Mã di truyền có tính thoái hóa: 1 axit amin được mã hóa bởi nhiều codon khác nhau. Sự thoái hóa này chủ yếu là do sự biến động của codon thứ 3 của mã, điều đó cũng có nghĩa là đặc tính của mã sẽ được xác định bởi 2 codon trước đó. Sự xuống cấp của mã di truyền có ý nghĩa tích cực đối với sự sống của tế bào. Ví dụ: GCU, GCC, GCA, GCG đều đại diện cho alanine.

Mã di truyền là phổ quát: các axit amin giống nhau ở các sinh vật khác được mã hóa bởi cùng một codon. Ví dụ, trong ty thể của con người, UGA không phải là bộ kết thúc, mà là mã tryptophan; AGA, AGG không phải là mã của arginine, nhưng là điểm kết thúc, ngoài UAA và UAG, ty thể bao gồm 4 nhóm kết thúc. Methionine có 2 codon là AUG và AUA.

Câu hỏi: Bản chất của mã di truyền là gì?

A. trình tự các nuclêôtit trong gen quy định trình tự các axit amin trong prôtêin.

B. axit amin được mã hóa trong gen.

C. ba nuclêôtít kề nhau cùng loại hay khác loại đều mã hóa cho một aa

D. một bộ ba mã hóa một loại axit amin

Trả lời: A

Hình ảnh

Phần kết luận

Ant mong rằng qua bài viết trên bạn đã biết cụ thể mã di truyền là gì? Hãy theo dõi những bài học tiếp theo để nhận thêm nhiều tài liệu và kiến ​​thức bổ ích từ Ant nhé. Chúc bạn học tập và nghiên cứu thành công!

Bạn thấy bài viết Mã di truyền có tính đặc hiệu tức là gì? có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Mã di truyền có tính đặc hiệu tức là gì? bên dưới để Trường THPT Nguyễn Quán Nho có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: thptnguyenquannho.edu.vn của Trường THPT Nguyễn Quán Nho

Nhớ để nguồn bài viết này: Mã di truyền có tính đặc hiệu tức là gì? của website thptnguyenquannho.edu.vn

Chuyên mục: Giáo dục

Xem thêm chi tiết về Mã di truyền có tính đặc hiệu tức là gì?
Xem thêm bài viết hay:  Tổng hợp sơ đồ tư duy sinh học 12 chương 1

Viết một bình luận